Trang chủ         Tin tức - Sự kiện         Khoa học & Công nghệ mỏ         Các công trình nghiên cứu         Giá cả thị trường khoáng sản [ ENGLISH ]
Hội KHCN Mỏ Việt Nam
Hội nghị KHCN Mỏ VN
Tạp chí Công nghiệp Mỏ
Cơ sở dữ liệu chuyên ngành
Công nghiệp Bauxite - Alimin Việt Nam
International Cooperation
Diễn đàn, trao đổi
Phản hồi

LIÊN KẾT WEBSITE
images/adv/adv_8.jpg
images/adv/adv_1.jpg
images/adv/adv_2.gif

THƯ VIỆN ẢNH
Tấn Alumina đầu tiên của tổ hợp Bauxit - Nhôm Lâm Đồng

THỐNG KÊ TRUY CẬP
Người online: 66

Số lượt truy cập: 11,796,138

VỀ ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT KHOÁNG SẢN TỪ GÓC ĐỘ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (25/06/2010)

TS Nguy ễn Anh đã khái quát một số vấn đề về khai thác khoáng sản và trao đổi về đối tượng điều chỉnh của Luật Khoáng sản trong mối quan hệ với yêu cầu của phát triển bền vững. Theo đó, Luật Khoáng sản cần đặt nền tảng pháp lý cho sự phát triển bền vững của hoạt động khoáng sản nhằm đạt tới sự tổng hoà các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường

Abstract : The article gives a overview on some issues of min eral mining and discuss about the scope of the Minerals Law in relation to sustainable development requirements. Accordingly, the Mineral Law need to set a legal foundation for the sustainable development of mineral mining to achieve the overall harmony of economic, social and environmental objectives. At the same time ensure that these goals are done in the relationship of   causality and the highest balance of today life and for future generations.

 

          Một trong những nguyên t ắc cơ bản của phát triển bền vững là : “Trong khi đạt tới điều kiện và chất lượng cuộc sống tối ưu cho con người đương đại, sự phát triển hiện tại không được làm tổn hại tới tiềm năng thoả mãn nhu cầu cuộc sống của thế hệ mai sau”.

           Khai thác khoáng sản là một trong những ngành công nghiệp có liên quan nhiều nhất với nguyên t ắc nêu trên vì:

          Thứ nhất, khoáng sản là tài nguyên không tái tạo. Có nghĩa là mọi khai thác khoáng sản cho hôm nay đều làm giảm tiềm năng về tài nguyên khoáng sản cho thế hệ mai sau.

          Thứ hai, khai thác khoáng sản là một trong những ngành có tác hại lớn nhất tới môi trường. Có nghĩa là khai thác khoáng sản cho hôm nay có thể để lại những hậu quả môi trường lớn, thậm chí khôn lường cho thế hệ mai sau.

          Về vấn đề thứ nhất, khoáng sản là tài nguyên kh ông tái tạo, tiềm năng khoáng sản của nước ta có hạn, vậy thế hệ ngày nay khai thác tài nguyên này tới đâu, gia tăng hay giảm quy mô khai thác, có trách nhiệm gì và có dành phần khoáng sản lại cho các thế hệ mai sau ?.

          Thực chất, đó chính là mối quan hệ giữa   bảo vệ, ti ết kiệm tài nguyên khoáng sản v ới phát triển khai thác và sử dụng khoáng sản. Đây là mối quan hệ đa chiều, phức tạp, chứa đựng nhiều yếu tố về điều kiện tự nhiên, công nghệ, kinh tế-xã hội, không chỉ ở phạm vi trong nước mà cả quốc tế, không chỉ là vấn đề của hiện tại mà liên quan tới cả quá khứ và tương lai…Không dễ gì có câu trả lời đầy đủ, chuẩn xác và ngay tức khắc. Càng không dễ gì có câu trả lời chung cho mọi trường hợp.

          Về nguyên lý, cách tốt nhất dể bảo vệ và tiết kiệm tài nguyên khoáng sản là khai thác và sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất. Khi tài nguyên khoáng sản được khai thác và sử dụng một cách hiệu quả nhất có nghĩa là chúng đã được chuyển hoá thành những giá trị cao hơn giá trị nguyên thuỷ của chúng. Dạng nguyên thuỷ của tài nguyên khoáng sản có thể mất đi, nhưng giá trị được chuyển hoá ở mức cao hơn của nó vẫn tiếp tục tồn tại và phục vụ c ộng đồng xã hội . Tuy nhiên, ti ến hành “khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản một cách hiệu quả nhất” trong thực tế là vấn đề không hề đơn giản.

    Tài nguyên khoáng sản có thể được bảo vệ và tiết kiệm tr ực tiếp bằng cách khống chế hợp lý quy mô và tốc độ khai thác, cũng như h ạn chế tới mức tối thiểu thất thoát tài nguyên khoáng sản trong quá trình điều tra cơ bản địa chất, thăm dò, khai thác, chế biến và s ử dụng khoáng sản . Với tiến bộ khoa học và công nghệ như ngày nay, có thể đòi hỏi không được bỏ phí gì thứ gì trong khai thác khoáng sản .

          Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn nhiều và là giải pháp cơ bản đ bảo vệ và tiết kiệm tài nguyên khoáng sản chính là phải s ử dụng tài nguyên khoáng sản ở trạng thái vật chất, v ới quy mô và trong những điều kiện hợp lý sao cho có thể phát huy cao nhất giá trị của chúng. Đây là vấn đề không chỉ phụ thuộc vào bản thân tài nguyên khoáng sản , mà còn phụ thuộc vào trình độ khoa học, công nghệ và quản lý, trạng thái kinh tế-xã hội, phạm vi không gian và thời gian cũng như phụ thuộc vào sự điều tiết của quy luật thị trường…

            “Dành phần Khoáng sản cho thế hệ mai sau” là đạo lý và trách nhiệm không ai có thể thoái thác. Nhưng, khó ai có thể rành mạch được cần dành loại khoáng sản nào, dành bao nhiêu cho thế hệ mai sau và “thế hệ mai sau” ở đây là cho tới bao giờ, trong khi nhu c ầu khai thác và sử dụng khoáng sản hiện tại ngày càng gia tăng ?.

          Có th ể nhìn nhận những thực tế sau đây:

          - Mặc dù tài nguyên khoáng sản là có hạn và không tái tạo, nhưng khi sức sản xuất của con người còn nhỏ bé thì chúng dường như vô tận. Cùng với sự lớn mạnh của sức sản xuất, tài nguyên khoáng sản ngày càng khan hiếm và chắc chắn sẽ tới lúc cạn kiệt.

           - Nư ớc ta có tiềm năng tài nguyên khoáng sản không thua kém nhiều nước trên Thế giới. Mặc dầu quá trình khai thác khoáng sản ở Việt Nam dường như mới bắt đầu tăng tốc, nhưng cũng không nằm ngoài quy luật nêu trên.

          - Đạo lý và trách nhiệm “dành phần khoáng sản cho thế hệ mai sau” không phải chỉ hành động theo nghĩa trực tiếp là dành lại ph ần khoáng sản nào đó cho tương lai mà v ấn đề cơ bản chính là phải khai thác sử dụng khoáng sản một cách hiệu quả nhất, chuyển hoá chúng thành những giá trị cao nhất, hơn hẳn giá trị nguyên thuỷ của tài nguyên. Trong giá   trị đó có phần xứng   đáng “dành cho thế hệ mai sau”.

          - T hế hệ mai sau có thể tiếp thu đất nước với tiềm năng tài nguyên khoáng sản  ngày càng nhỏ đi, nhưng họ sẽ đư ợc sở hữu những giá trị to lớn đã được chuyển hoá t khoáng sản để lại. Nói m ột cách khác, họ đư ợc tiếp thu một đất nước giàu mạnh hơn, mà khoáng sản đã có phần đóng góp trong đó. Nhờ vậy, họ sẽ chủ động   và sử dụng có hiệu quả hơn nguồn khoáng sản còn lại, cũng như ở vị thế cao hơn để có thể tiếp cận những nguồn nguyên liệu mới thay thế.

          Về vấn đề thứ hai,  khai thác khoáng sản là một trong những ngành có tác hại lớn nhất tới môi trường, do vậy nó có th ể góp phần làm giảm chất lượng cuộc sống của ngay thế hệ đương đại và cả thế hệ mai sau.

          Tuy nhiên, khác với tính không tái tạo của khoáng sản nằm ngoài khả năng can thiệp của con người, tác hại môi trường trong khai thác khoáng sản ngày càng có th ể được khống chế hữu hiệu bởi công nghệ hiện đại.

          Trong thực tiễn khai thác khoáng sản trên Thế giới và ngay ở trong nước, đã có bước chuyển từ thụ động xử lý một phần sang chủ động phòng ngừa và xử lý triệt để các tác hại môi trường, ứng dụng các công nghệ thân thiện môi trường và thậm chí còn cải tạo nâng cấp chất lượng môi trường. Có thể khẳng định, sứ mệnh bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu của phát triển bền vững trong khai thác khoáng sản là vấn đề thuộc trách nhiệm và năng lực chủ quan của những người trong cuộc.

          Có thể khái quát về các công cụ chủ yếu để đạt tới sự phát triển bền vững trong khai thác sử dụng   tài nguyên khoáng sản như sau :

          - Công cụ thuộc phạm trù quản lý gồm hệ thống các quy định pháp lý, cơ ch ế  và nghệ thuật điều hành.

          - Công cụ thuộc phạm trù công nghệ sản xuất gồm hệ thống thiết bị, lưu trình công ngh , hệ thống thiết chế kỹ thuật và trình độ con người.   

          - Kinh nghiệm có thể đư ợc nhìn nhận riêng như một dạng công cụ đặc biệt, mặc dù nó nằm ngay trong hai công cụ nêu trên.

    Trong hệ thống các quy định pháp lý về khoáng sản thì Luật Khoáng sản có vai trò cơ bản. Luật Khoáng sản chính là n ền tảng pháp lý cho việc thực hiện các giải pháp cân đối giữa phát triển khai thác khoáng sản với tiềm năng khoáng sản, phù h ợp v ới vị trí, giá trị và nhu c ầu của chúng trong nền kinh t ế quốc dân, thực hiện các giải pháp bảo vệ và tiết kiệm tài nguyên khoáng sản cũng như thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường. Có nghĩa là Luật Khoáng sản có vai trò là nền tảng pháp lý bảo đảm cho sự phát triển bền vững trong khai thác khoáng sản .

          Luật Khoáng sản cần phải có nội dung bao quát toàn ngành vì ở nước ta cho tới nay, đây là luật chuyên ngành duy nhất điều chỉnh các hoạt động khoáng sản (không kể dầu khí).

          Nếu xét về nội dung của Luật Khoáng sản 1996, Luật Khoáng sản sửa đổi 2005 và các dự thảo Luật Khoáng sản sửa đổi 2010 thì tên gọi thực chất của Luật phải là luật Địa chất và Khai thác khoáng sản, hoặc Luật Địa chất và Mỏ, hoặc chỉ đơn giản là Luật Mỏ (vì mỏ đương nhiên gắn liền với giai đoạn tiền đề là địa chất).

           Đối tượng điều chỉnh của Luật chứa đựng 2 nội dung chuyên ngành lớn và có liên quan hệ thống với nhau là hoạt động Địa chất khoáng sản có vai trò tiền đề và hoạt động Khai thác khoáng sản có vai trò mục tiêu (có thể gọi chung là hoạt động khoáng sản).

          Mục tiêu cuối cùng của hoạt động khoáng sản không dừng lại ở phát   hiện và bảo quản tài nguyên khoáng sản mà phải đạt tới các sản phẩm khoáng sản được đưa ra lưu thông trên thị trường và tạo ra hiệu quả kinh tế-xã hội. Như vậy ph ần chủ yếu trong đ ối tượng mà Luật Khoáng sản điều chỉnh   thuộc lĩnh vực sản xuất-kinh doanh.

          Từ góc độ phát triển bền vững thì Luật Khoáng sản phải là nền tảng pháp lý đ ể tiến hành khai thác sử dụng khoáng sản một cách hiệu quả nhất, chuyển hoá chúng thành những giá trị cao nhất đáp ứng nhu c ầu nâng cao chất lượng cuộc sống cho cả thế hệ đương đại và thế hệ mai sau.

          Nếu coi hoạt động khoáng sản là đối tượng điều chỉnh của Luật Khoáng sản thì nội hàm của khái niệm hoạt động khoáng sản cần đầy đủ những nội dung sau :

          “Hoạt động khoáng sản là hệ thống các tác động của con người để chuyển hoá tài nguyên khoáng sản thành sản phẩm khoáng sản, bao g m điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản, thăm dò Khoáng sản, đầu tư XDCB, khai thác, phân loại và làm giàu khoáng sản, vận chuyển và sử dụng cũng như xuất nhập khẩu sản phẩm khoáng sản, nghiên c ứu khoa học và công nghệ về khoáng sản cũng như công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trư ờng trong hoạt động khoáng sản và những hoạt động liên quan khác ”.

          Hành vi của con người trong hoạt động khoáng sản là yếu tố quyết định hiệu quả và sự phát triển bền vững của nó. Có cả một hệ thống các chủ thể tham gia hoạt động khoáng sản. Luật Khoáng sản phải   nhận diện và khẳng định về mặt pháp lý đầy đủ tất cả các chủ thể có liên quan trực tiếp tới hoạt động Khoáng sản, bao gồm :

          - Các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Trung ương và địa phương)

          - Các đơn vị chuyên ngành địa chất (Thực hiện điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên và thăm dò khoáng sản).

          - Các chủ đầu tư và chủ doanh nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản.

          - Các tập thể và cá nhân những người lao động trực tiếp tham gia khai thác và chế biến khoáng sản.

          - Cộng đồng xã hội địa phương thuộc khu vực khai thác và chế biến Khoáng sản.

          - Các tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ và môi trường chuyên ngành Khoáng sản cũng như các tổ chức tư vấn chuyên ngành khoáng sản.

          - Các chủ thể quốc tế tham gia hoạt động khoáng sản tại Việt Nam.

          - Chủ thể có chức năng trọng   tài trong tranh chấp…

          Trên cơ sở nhận diện đầy đủ các chủ thể pháp lý nêu trên, Luật khoáng sản phải là nền tảng pháp lý để xác định trách nhiệm, quyền hạn, quyền lợi và tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong hoạt động khoáng sản nhằm đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội tối đa và bảo đảm phát triển bền vững.

          Nói một cách khác, Luật Khoáng sản không phải chỉ là công cụ quản lý của riêng Nhà nước hoặc một cơ quan nhà nước, mà phải trở thành công cụ của cả cộng đồng xã hội, trước hết là của các chủ thể pháp lý nêu trên để vận hành một nền công nghiệp khoáng sản có hiệu quả tối ưu và phát triển bền vững.     

          Luật Khoáng sản là một luật chuyên ngành, đồng thời là một phần không tách rời và đồng bộ với các luật khác trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Luật Khoáng sản không quy định trái hoặc mâu thuẫn với các luật khác trong phạm vi diều chỉnh của chúng, nhưng phải bổ sung ở mức cần thiết các điều luật trong vùng “đặc thù” hoặc vùng “giáp ranh” giữa Luật khoáng sản và các luật khác, nơi mà các luật khác thư ờng không thể điền đầy hết những khoảng trống pháp lý có liên quan trực tiếp tới hoạt động khoáng sản.

          Các điều luật của Luật khoáng sản phải có giá trị thực thi trực tiếp và thực chất. Khắc phục một thực trạng là Luật Khoáng sản chỉ có vai trò như “Luật khung”, “Luật nguyên tắc”, trong khi các điều khoản cụ thể để thực hiện lại phần lớn được quy định trong các văn bản dưới Luật. Luật Khoáng sản không nên né tránh những nội dung cụ thể, những vấn đề gai góc, những vấn đề chuyên môn không thuận đối với người soạn thảo, né tránh quy định định lượng và các chỉ tiêu tài chính… để uỷ thác quá nhiều nội dung pháp lý vào các văn bản dưới luật.  

            Những nội dung nêu trên trong hoạt động khoáng sản đều vận   động và tác động   lẫn nhau trong mối quan hệ hệ thống. Nếu Luật Khoáng sản muốn điều chỉnh hữu hiệu toàn bộ hệ thống (hoạt động khoáng sản), thì cần cân đối một cách hợp lý các nội dung, không bỏ qua hoặc coi nhẹ một yếu tố nào. Các chương mục của Luật Khoáng sản cần bám sát đối tượng từ tài nguyên khoáng sản trong lòng đất cho tới khi trở thành các sản phẩm hàng hoá khoáng sản trên thị trường.

          Chỉ có như vậy, Luật Khoáng sản mới thực hiện hữu hiệu vai trò đặt nền tảng pháp lý cho hoạt động khoáng sản, đáp ứng yêu cầu của phát triển bền vững, đạt tới sự tổng hoà các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong hoạt động khoáng sản , bảo đảm những mục tiêu này được thực hiên trong mối quan hệ nhân quả và cân đối cao nhất cho cuộc sống đương đại và cho thế hệ mai sau .
TS Nguyễn Anh
Hội KHCN Mỏ Việt Nam

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ lần thứ V khoá VI (11/2009)
  •  
  • Nghị quyết đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 2005 (11/2009)
  •  
  • Nghiên cứu sản xuất thành công thuốc nổ nhũ tương rời dùng cho mỏ lộ thiên (03/2009)
  •  
  • HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ MỎ VIỆT NAM NĂM 2008 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ CỦA NĂM 2009 (01/2009)
  •  
  • Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ việt Nam trở thành thành viên thứ 41 của Hội Mỏ Thế giới – Một số thông tin về Hội Mỏ thế giới và Hội Mỏ Ba Lan (10/2008)
  •  
  • Thành lập chi hội Mỏ tại trường Quản trị kinh doanh TKV (08/2008)
  •  
  • Thông tin về tham dự Hội nghị và Triển lãm Mỏ Thế giới lần thứ XXI tổ chức tại Ba Lan từ ngày 7 đến 11-9-2008 (04/2008)
  •  
  • Đóng góp ý kiến để hoàn thiện chính sách ngành công nghiệp khai khoáng phù hợp với thời kỳ hội nhập (04/2008)
  •  
  • Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ­ương Hội KH&CN Mỏ Việt Nam lần thứ IV (04/2008)
  •  
  • Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ Việt Nam lần thứ IV khóa VI (03/2008)
  •  

    TÌM KIẾM
    Search by Google.com

    TIN MỚI
    Dự báo về tình hình khai thác mỏ toàn cầu
    New Gold tạm dừng mỏ tại Ontario do lệnh cấm biên giới của Canada
    Appian hỗ trợ tín dụng cho các công ty khai thác mỏ
    South Africa yêu cầu các mỏ đóng cửa 21 ngày
    Newmont hạ thấp mục tiêu sản lượng năm 2020 sau khi đóng cửa bốn mỏ
    BHP sẽ thuê 1500 lao động để hỗ trợ sản xuất tại Australia
    Orocobre dừng hoạt động khai thác tại Argentina
    Lithium Americas dừng việc xây dựng tại Argentina
    Hoạt động khai thác đồng toàn cầu ngừng trệ
    Barrick với kế hoạch hồi phục mỏ vàng Veladero

    DỰ BÁO THỜI TIẾT
    Find more about Weather in Hanoi, VS

    Find more about Weather in Ho Chi Minh, VS
    Xem thêm thông tin thời tiết ở các địa phương khác

    QUẢNG CÁO
    images/adv/adv_14.gif
    images/adv/adv_15.jpg
    images/adv/adv_16.jpg

    Bản quyền thuộc Hội Khoa học & Công nghệ mỏ Việt Nam.
    Địa chỉ : Số 655 Phạm Văn Đồng, Phường Cổ Nhuế 1, Quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.
    Điện thoại : 024 – 22463696/36649158 /36649159 * Fax: 024 – 36649159
    Tổng biên tập: GS.TS. NGND Võ Trọng Hùng
    Quản trị trang web: TS. Nguyễn Bình.
    Xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player.
    Thiết kế bởi BISolution.