Trang chủ         Tin tức - Sự kiện         Khoa học & Công nghệ mỏ         Các công trình nghiên cứu         Giá cả thị trường khoáng sản [ ENGLISH ]
Hội KHCN Mỏ Việt Nam
Hội nghị KHCN Mỏ VN
Tạp chí Công nghiệp Mỏ
Cơ sở dữ liệu chuyên ngành
Diễn đàn, trao đổi
Phản hồi

LIÊN KẾT WEBSITE
images/adv/adv_8.jpg
images/adv/adv_1.jpg
images/adv/adv_2.gif

THƯ ĐIỆN TỬ
Địa chỉ thư
Mật khẩu
 

THƯ VIỆN ẢNH
HN.Nha Trang4

THỐNG KÊ TRUY CẬP
Người online: 12

Số lượt truy cập: 7,162,717

Một số ý kiến về Luật Khoáng Sản sửa đổi (07/07/2010)

TS. Nghiêm Gia, TCTy Thép Việt Nam

Sau khi nghiên cứu Dự thảo lần 4 “Luật Khoáng sản”, Tôi có một số ý kiến đề nghị xem xét bổ sung và sửa đổi sau đây:

I. Góp ý cho Dự thảo lần 4 - Luật Khoáng sản đề nghị xem xét bổ sung và sửa đổi sau đây:

1. Điều 32, Điểm 3 mục c (trang17), được bổ sung và sửa đổi như sau:

Quy hoạch các dự án chế biến khoáng sản sau khai thác phải gắn với khả năng đáp ứng nguồn nguyên liệu khoáng sản cho quá trình hoạt động của dự án;

2. Điều 53, Điểm 3 (trang 29), cần lưu ý như sau:

Nên xem xét trong tường hợp dự án đầu tư khai thác khoáng sản được phê duyệt với thời gian trên 30 đến 50 năm mới có hiệu quả thì quy định thời hạn cấp phép có nhất thiết là 30 năm không? Hay nên cấp đúng với thời gian mà Dự án đã   được duyệt?

3. Điều 67, Điểm 2 (trang17) đoạn cuối, được bổ sung và sửa đổi như sau:

... Kinh phí thực hiện Đề án đóng cửa mỏ được lấy từ nguồn tiền cải tạo, phục hồi môi trường mà các tổ chức, các nhân đã ký quỹ.

4. Điều 70, Điểm 1 mục a (trang39), được bổ sung và sửa đổi như sau:

a) Doanh nghiệp trong nước và nước ngoài thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh ngành nghề chế biến khoáng sản tại Việt Nam;

II. Đánh giá tình hình thực hiện Luật Khoáng sản:

II.1. Quản lý cấp giấy phép thăm dò và khai thác:

Luật Khoáng sản đã được Quốc Hội thông qua ngày 20/3/1996 là mốc quan trọng về quản lý Tài nguyên của Việt Nam. Nhiều văn bản pháp luật về quản lý và cấp giấy phép khai thác TNKS đã ban hành đã góp phần quản lý TNKS một cách tương đối có hiệu quả.

Để được cấp Giấy phép thăm dò các tổ chức và cá nhân phải nộp Đề án thăm dò TNKS đã được phê duyệt cho Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (Bộ TN&MT). Sau khi thẩm tra và có ý kiến của các Bộ, ngành liên quan và UBND tỉnh (địa điểm cần thăm dò), Bộ TN&MT mới cấp giấy phép. Mọi thủ tục, thời gian đều được quy định trong Luật Khoáng sản. Khi được cấp Giấy phép mọi tổ chức và cá nhân phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định nêu trong Giấy phép.

Để được cấp Giấy phép khai thác các tổ chức và cá nhân phải nộp Báo cáo NCKT khai thác và chế biến khoáng sản đã được cấp thẩm quyền phê duyệt cho Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (Bộ TN&MT). Báo cáo NCKT được lập và thẩm định theo quy định về Quản lý đầu tư xây dựng và các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động khai thác TNKS. Khi được cấp Giấy phép mọi tổ chức và cá nhân phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định nêu trong Giấy phép khai thác.

Thủ tục và thời gian xét cấp giấy phép thăm dò và khai thác quá lâu, cần nghiên cứu rút ngắn thời gian và quy trình cấp phép.

II. 2. Công tác thanh tra HĐKS:

Hệ thống tổ chức Thanh tra quản lý Nhà nước về TNKS từ cấp Trung ương đến địa phương đã được hình thành. Tuy nhiên công tác thanh tra, kiểm tra chưa được quan tâm đúng mức, chưa được làm thường xuyên. Việc thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác khoáng sản chưa thực hiện đầy đủ.

Từ cuối năm 1995 - 2008 khi hoạt động khai thác TNKS (trong đó có khai thác quặng sắt, Mn, Cromít...) tăng mạnh. Nhiều tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, chế biến cũng như thu mua tăng nhanh và có xu hướng không kiểm soát được thì các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương mới thực sự vào cuộc. UBND các tỉnh đã có những chỉ thị và các đợt thanh, kiểm tra mang tính chất liên ngành để giải toả lực lượng khai thác trái phép, kể cả các hoạt động thu mua, vận chuyển. Nhưng hiệu lực của các văn bản, chỉ thị còn thấp, việc tổ chức thực hiện chưa nghiêm, nên tình trạng khai thác, chế biến TNKS trái phép vẫn không thực sự chấm dứt.

Do chế tài xử phạt chưa phù hợp với thực tiến HĐKS và không thực hiện không nghiêm nên hiệu lực quản lý nhà nước theo Luật Khoáng sản chưa cao.

Tính đồng bộ giữa Luật Khoáng sản và Luật đất đai có một số điểm chưa thống nhất (ví dụ phạm vi và diện tích khai thác không phù hợp với quy định số lượng được cấp và đền bù hàng năm...).

III. Biện pháp tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về Luật Khoáng sản.

1) Về chính sách và cơ chế quản lý nhà nước:

- Cần nhanh chóng h oàn chỉnh Luật Khoáng sản trong đó có các điều khoản quy định cụ thể đối với việc quản lý một số TNKS như quặng sắt, chì, kẽm... trên phạm vi cả nước.

- Xem xét và thời sự hoá các Thông tư của Bộ Công Thương ban hành hướng dẫn việc xuất khẩu hàng hoá thời kỳ 2010 - 2015.

- Xây dựng mục tiêu tổng thể về chính sách sử dụng TNKS trong nước với phuơng châm khai thác phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước. Về xuất khẩu cần lưu ý:

+) Đối với xuất khẩu than: Cần xây dựng lộ trình giảm số lượng xuất khẩu hàng năm;

+) Đối với quặng sắt: Tuyệt đối cấm xuất khẩu. Chỉ cho phép xuất khẩu đổi lấy than Cốc, than mỡ và nguyên liệu khác cho sản xuất gang thép trong nước theo kế hoạch sản xuất hàng năm của các doanh nghiệp. Giao cho Bộ Công Thương chủ trì quản lý việc khai thác và kinh doanh quặng sắt trên phạm vi cả nước. Xây dựng và hoàn thiện điều lệ và quy chế hoạt động của đơn vị đầu mối về quản lý khai thác và kinh doanh xuất nhập khẩu quặng sắt trên phạm vi cả nước.

2) Quản lý và phát triển tiềm năng nguồn TNKS:

- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống quản lý dữ liệu bằng công nghệ số hoá một số   loại TNKS chủ yếu trên phạm vi cả nước đưa vào lưu trữ quốc gia.

- Giao cho Bộ Tài nguyên Môi trường tiếp tục xây dựng chương trình điều tra nhằm phát hiện thêm các mỏ TNKS có tiềm năng thuộc các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc và Trung Trung Bộ.

- Các ngành cần mau chóng lập và phê duyệt quy hoạch khai thác để k hoanh định diện tích mỏ và các công trình phục vụ cho khai thác nhằm quy hoạch và sử dụng đất hợp lý, giảm thiểu đền bù và giải toả sau này.

3) Về khai thác và sử dụng TNKS:

-   Có chính sách uu tiên đầu tư khai thác các mỏ KS phục vụ cho các dự án sản xuất nguyên liệu trong nước.

- Tập trung nghiên cứu lựa chọn các công nghệ chế biến KS thích hợp để sử dụng hiệu quả tối đa nguồn TNKS   trong nước để sản xuất.

4) Các giải pháp đồng bộ về HTCS, tài chính, nhân lực:

-   Ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống đường bộ, đường sắt tại các tỉnh có nguồn TNKS đang được và sẽ được khai thác phục vụ nhu cầu sản xuất đối với một số ngành có tính chiến lược quốc gia.

- Tạo cơ chế và chính sách ưu đãi về tài chính, thuế, đất đai...đối với dự án đầu tư khai thác mỏ. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp nước ngoài tham gia đầu tư vào lĩnh vực điều tra, thăm dò, khai thác và chế biến TNKS theo quy hoạch phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước. Tạo nguồn vốn Ngân sách nhà nước cho việc điều tra và thăm dò tiềm năng một số mỏ khoáng sản.  

- Có chính sách ưu tiên nhằm thu hút   đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học chuyên ngành địa chất, mỏ tuyển và luyện kim.

IV. Những kiến nghị:

            (1) Quản lý tài tiệu địa chất:

- Nhà nước cần xây dựng hệ thống quản lý tài liệu và số liệu địa chất nguồn TNKS trên phạm vi cả nước.

- Cần có chi phí cho đầu tư thăm dò để hoàn chỉnh số liệu, chi phí này sẽ được các doanh nghiệp hoàn trả khi sử dụng tài liệu.

            (2) Quản lý hoạt động khai thác:

- Việc phân giao giữa cấp giấy phép khai thác và quản lý khai thác cần cần được xem xét một cách hoàn chỉnh. Hiện nay Bộ Công Thương quản lý các doanh nghiệp đang khai thác TNKS quy mô công nghiệp, nhưng cấp hay thu Giấy phép khai thác lại do Bộ TN&MT.

- Cần thiết phải có định kỳ báo cáo kết quả thực hiện Luật KS, sau 2 năm thực hiện cần rà soát lại nếu cần thiết bổ sung và thời sự hoá lại các văn bản pháp luật trình Chính phủ phê duyệt;

- Tiếp tục duy trì và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác, chế biến TNKS trên phạm vi cả nước. Kiên quyết xử lý, thậm chí thu hồi giấy phép khai thác đã cấp đối với những đơn vị khai thác không đầu tư khai thác, chế biến theo đúng thiết kế đã duyệt, mượn giấy phép khai thác để thu mua KS khai thác tự do..;

- Cần xây dựng một Dự án “Đánh giá tác động của hoạt động khai thác, chế biến TNKS trái phép trong giai đoạn 2005 – 2009 trên phạm vi cả nước”. Trong cần có báo cáo đánh giá, tổng kết công tác tổ chức, quản lý khai thác tận thu. Trên cơ sở đó, đề xuất việc xây dựng qui hoạch tổng thể hoạt động khai thác, chế biến, sử dụng TNKS cho   từng ngành và từng lĩnh vực cụ thể.

            (3) Quản lý xuất khẩu:

Để chấn chỉnh hoạt động xuất khẩu khoáng sản, đề nghị Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với các tỉnh kiểm tra toàn bộ các đơn vị đang khai thác TNKS về việc cấp giấy phép và thực hiện quy định của giấy phép khai thác khoáng sản.

Hoàn thiện những quy định của Thông tư của Bộ Công Thương ban hành hướng dẫn việc xuất khẩu hàng hoá thời kỳ 2010 - 2015.

-   Đối với quặng sắt, Mn và một số kim loại hiếm khác:

+) Giao Bộ Công Thương mại và các ngành chức năng liên quan kiểm tra việc xuất khẩu quặng sắt trong thời gian vừa qua. Kiên quyết xử lý nghiêm mọi trường hợp vi phạm liên quan đến khai thác và xuất khẩu quặng sắt;

+) Đề nghị Chính phủ cấm hoàn toàn việc xuất khẩu quặng sắt. Trong trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu để đổi than Cốc, than mỡ và nguyên, nhiên liệu hoặc thiết bị phục vụ cho sản xuất trong nước phải có kế hoạch để Bộ Công Thương xem xét đồng ý.

+) Đối với Than: Cần nhanh chóng xây dựng Dự án “Chính sách quản lý năng lượng quốc gia”. Vì trữ lượng than Việt Nam so với thế giới không nhiều, nên trong Dự án này cần chú ý không nên tăng số lượng xuất khẩu than, giai đoạn từ năm 2011 - 2015 chỉ nên cho phép xuất khẩu khoảng < 4 triệu tấn/năm;

(4) Các vấn đề khác liên quan đến HĐKS:

- Giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét và điều chỉnh tăng số diện tích một lần cấp đất cho khu vực khai thác mỏ ở các địa phương. Vì như hiện nay, hàng năm các doanh nghiệp phải làm thủ tục nhiều lần để xin tỉnh cấp đất cho XDCB và khai thác mỏ, điều này đã làm ảnh hưởng lớn đến tiến độ thực hiện các dự án đầu tư khai thác và chế biến quặng sắt.

- Xây dựng chế độ chính sách ưu tiên nhằm thu hút đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học chuyên ngành địa chất, mỏ tuyển và luyện kim cho các dự án điều tra, thăm dò, khai thác và chế biến TNKS.

- Phải có sự phối hợp đồng bộ giữa Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và UBND các tỉnh theo chức năng của mình thực hiện nghiêm những nội dung công việc liên quan về hoạt động KS./

[ Quay lại ]
Các tin khác

 

TÌM KIẾM
Search by Google.com

TIN MỚI
B2Gold sẽ khai thác thương mại tại mỏ Fekola sớm hơn dự kiến
Công ty liên doanh trong khai thác vàng giữa Nga và Trung Quốc
Công ty sản xuất acquy CATL của Trung Quốc với việc đầu tư vào coban
Giá urani giảm khiến cho Cameco tạm dừng khai thác tại Canada
India’s Công ty NMDC tham gia đấu hầu dự án kim cương 9 tỷ USD
McEwen sẽ triển khai dự án khai thác tại mỏ vàng Gold Bar, Nevada
Thái Lan đối mặt với sự phán xử trước quyết định đóng cửa mỏ vàng
New Century huy động 54 triệu USD để tái khởi động mỏ kẽm
Tranh chấp quyền sử dụng đất khiến cho việc khai thác tại mỏ bạc tại Peru bị tạm dừng
Lucara Diamond sẵn sàng cho kế hoạch mở rộng mỏ Karowe

DỰ BÁO THỜI TIẾT
Find more about Weather in Hanoi, VS

Find more about Weather in Ho Chi Minh, VS
Xem thêm thông tin thời tiết ở các địa phương khác

QUẢNG CÁO
images/adv/adv_14.gif
images/adv/adv_15.jpg

Bản quyền thuộc Hội Khoa học & Công nghệ mỏ Việt Nam.
Địa chỉ : P507,508 số 3 Phan Đình Giót, Phương Liệt, Thanh Xuân, Hà Nội.
Điện thoại : 024 – 22463696/36649158 /36649159 * Fax: 024 – 36649159
Tổng biên tập: GS.TS. Võ Trọng Hùng.
Quản trị trang web: TS. Nguyễn Bình.
Xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player.
Thiết kế bởi BISolution.